BỆNH NHA CHU VÀ BỆNH LÝ TOÀN THÂN

BỆNH NHA CHU VÀ BỆNH LÝ TOÀN THÂN

    Bệnh nha chubệnh toàn thân

     

    Mặc dù khoang miệng là một phần không thể thiếu của cơ thể con người, nhưng phần lớn các bác sĩ và bệnh nhân đều cho rằng khoang miệng là một phần tách biệt với phần còn lại của cơ thể. Điều này có thể là do khoang miệng và các bệnh liên quan đến khoang miệng thuộc phạm vi ngành Răng - Hàm - Mặt, trong khi các bệnh ảnh hưởng đến phần còn lại của cơ thể lại nằm trong Y khoa và thường có ít sự tương tác giữa hai chuyên khoa này.

    Trong Răng - Hàm - Mặt, Nha chu là một chuyên ngành riêng biệt vì nó giống với Y khoa hơn là các chuyên ngành còn lại trong Răng - Hàm - Mặt về mặt nguyên nhân gây bệnh, bệnh lý học và phương pháp điều trị. Điều này đã dẫn đến sự phát triển mối quan hệ hai chiều giữa Y khoa và Nha chu, trong đó viêm nha chu có thể ảnh hưởng đến sức khỏe toàn thân của người bệnh và bệnh toàn thân cũng có thể ảnh hưởng ngược lại đến tình trạng nha chu.

    Trong hai thập kỷ qua, mối liên hệ này ngày càng được quan tâm và nghiên cứu nhiều hơn. Ví dụ, trong 6 năm qua, đã có một số nghiên cứu xác nhận mối liên hệ giữa viêm nha chu và chứng mất trí. Gần đây nhất, mối liên hệ giữa mức độ nghiêm trọng của COVID-19 và viêm nha chu cũng đã được nghiên cứu.

    Như đã hứa với các bạn, thì đây sẽ là bài viết bàn luận kĩ lưỡng về mối tương quan giữa bệnh nha chu và các bệnh lý toàn thân.

    Bệnh nha chu bệnh lý toàn thân liên hệ với nhau bằng cách nào?

     

    Theo một nghiên cứu vào năm 2013, tác giả cho rằng có 3 cơ chế tạo nên sự liên kết giữa bệnh lý trong khoang miệng và bệnh lý toàn thân.

    - Sự lan rộng của nhiễm trùng (Nhờ vào du khuẩn huyết tạm thời): Vi khuẩn trong miệng tại giao diện răng/nướu có khả năng xâm nhập vào mô nha chu và gây ra tình trạng du khuẩn huyết tạm thời, trên cả những người có mô nha chu khỏe mạnh và những bệnh nhân viêm nha chu. Tình trạng du khuẩn huyết tạm thời có thể do các thủ thuật nha khoa hoặc do các hoạt động hàng ngày như nhai thức ăn và đánh răng gây ra. Vi khuẩn thường bị loại bỏ trong vòng vài phút, nhưng nếu gặp điều kiện thuận lợi, vi khuẩn có thể định cư tại một vị trí và sau một thời gian, bắt đầu sinh sôi.

    - Phản ứng viêm và chấn thương do viêm (Nhờ cơ chế Miễn dịch bẩm sinh): Sự tích tụ vi khuẩn tại giao diện răng/nướu gây ra sự giải phóng tế bào các phân tử gây viêm (hoặc cytokine), bởi các tế bào biểu mô, nguyên bào sợi và thực bào thường trú. Việc giải phóng các chất trung gian gây viêm hóa học như vậy có thể ảnh hưởng đến tình trạng viêm toàn thân, ví dụ như rối loạn chức năng nội mô. Các kháng nguyên của vi khuẩn có thể xâm nhập vào dòng máu, tại đó chúng phản ứng với kháng thể của vật chủ để tạo ra phức hợp kháng nguyên-kháng thể có thể gây ra nhiều phản ứng viêm cấp tính và mãn tính tại các vị trí lắng đọng. Hơn nữa, vi khuẩn có khả năng giải phóng độc tố (ngoại độc tố từ vi khuẩn Gram dương, nội độc tố hoặc lipopolysaccharide (LPS) từ vi khuẩn Gram âm) có hoạt tính dược lý mạnh và khi đã vào hệ tuần hoàn, có thể gây bệnh lý mạch máu.

    - Hệ miễn dịch thích ứng: Tình trạng viêm nướu/nha chu dai dẳng dẫn đến quá trình xử lý kháng nguyên vi khuẩn bởi hệ thống miễn dịch thích ứng (tế bào T và tế bào B). Tế bào B giải phóng kháng thể (Ab), mục đích là loại bỏ các kháng nguyên vi khuẩn xâm nhập. Tế bào T giải phóng một loạt các cytokine (IL và TNF-α) có thể góp phần phá hủy mô nha chu và các tình trạng viêm khác như tiểu đường và bệnh tim mạch.

    Viêm nha chu có thể ảnh hưởng đến khả năng mắc bệnh toàn thân của bệnh nhân theo ba cách:

    1. Các yếu tố nguy cơ chung: hút thuốc, lão hóa, căng thẳng và dân tộc là những yếu tố nguy cơ đối với cả bệnh nha chu và bệnh tim mạch

    2. Màng sinh học dưới nướu – hoạt động như một nơi chứa độc tố vi khuẩn.

    3. Nha chu bị viêm dai dẳng hoạt động như một nơi chứa các chất trung gian gây viêm (cytokine).

    Mối tương quan giữa bệnh nha chu và các bệnh lý toàn thân

    Viêm nha chu và bệnh tiểu đường:

    Trong những nghiên cứu trước đây đã công nhận mối quan hệ giữa tiểu đường và viêm nha chu. Mặc dù tiểu đường không từ gây ra viêm nha chu nhưng lại được xem là một yếu tố nguy cơ gây ra sự phá hủy các mô nha chu. Bên canh đó, tỷ lệ mắc bệnh lý nha chu cũng như mức độ nghiêm trọng và tiến triển trên những bệnh nhân tiểu đường (Type 1, Type 2) là đặc biệt nghiêm trọng. Trong một thời gian dài trước đây, mối liên quan giữa viêm nha chu và tiểu đường được cho là một chiều, tức là tiểu đường dễ bị viêm nha chu. Cho đến những nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng mối quan hệ này có nhiều khả năng là hai chiều (Bệnh nhân tiểu đường thì dễ bị viêm nha chu, trong khi đó, bệnh nhân viêm nha chu có thể làm trầm trọng thêm các biến chứng của tiểu đường). Việc dự trữ cytokine được do viêm nha chu không chỉ dẫn đến phá hủy nha chu mà còn can thiệp vào quá trình chuyển hóa glucose dẫn đến tăng đường huyết, do đó làm trầm trọng thêm bệnh lý liên quan đến bệnh tiểu đường. Tăng đường huyết mãn tính làm suy yếu chức năng của đại thực bào và bạch cầu trung tính, làm giảm hoạt động kháng khuẩn của chúng và làm thay đổi chức năng mạch máu, làm tăng nguy cơ mắc bệnh viêm nha chu của bệnh nhân.

    Viêm nha chu và bệnh tim mạch:

    Các bệnh tim mạch bao gồm huyết áp cao,  bệnh mạch vành, cơn đau thắt ngực và nhồi máu cơ tim, bệnh động mạch ngoại biên và đột quỵ (tai biến mạch máu não). Các bệnh này là hậu quả của tình trạng hẹp mạch máu hoặc xơ vữa động mạch. Mặc dù nguyên nhân chính gây xơ vữa động mạch là lắng đọng chất béo trong thành động mạch có thể do chế độ ăn nhiều chất béo và thiếu vận động, nhưng ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy nhiễm trùng mãn tính có thể gây xơ vữa động mạch.

    Bệnh viêm nha chu mang tính chất mãn tính của được coi là một yếu tố nguy cơ tiềm ẩn dẫn đến xơ vữa động mạch. Giả thuyết về liên kết giữa viêm nha chu và bệnh tim mạch lần đầu tiên được đưa ra vào cuối những năm 1980. Nghiên cứu này được đề xuất khi các yếu tố nguy cơ truyền thống đối với bệnh tim mạch (tăng huyết áp, hút thuốc, tiểu đường, nồng độ cholesterol trong máu cao, nồng độ cholesterol lipoprotein cao và tình trạng kinh tế xã hội thấp) không thể giải thích đầy đủ các đặc điểm lâm sàng và dịch tễ học của bệnh tim mạch xơ vữa động mạch. Ban đầu, các nhà khoa học cho rằng viêm nha chu là một yếu tố góp phần gây xơ vữa động mạch là do các tác nhân gây bệnh nha chu (như vi khuẩn Porphyromonas gingivalis) được phân lập từ các mảng xơ vữa động mạch. Các nghiên cứu trong ống nghiệm đã chỉ ra rằng sinh vật này có khả năng xâm nhập vào các tế bào nội mô. Việc giải phóng nhiều chất trung gian sinh hóa sau đó do sự xâm nhập của P. gingivalis được cho là một yếu tố quan trọng góp phần vào sự phát triển của xơ vữa động mạch. Bên cạnh đó, những vi khuẩn trong miệng cũng có khả năng gây kết tập tiểu cầu và hình thành huyết khối, do đó góp phần vào sự tiến triển của tổn thương xơ vữa động mạch.

    Viêm nha chu và phụ nữ mang thai:

    Nhiễm trùng miệng có thể làm tăng nguy cơ hoặc góp phần gây ra các bất lợi trong thai kỳ (Sinh non nhẹ cân, sảy thai hoặc mất thai sớm và tiền sản giật). Sinh non được định nghĩa là sinh trước 37 tuần tuổi thai; nhẹ cân được định nghĩa là cân nặng khi sinh dưới 2500 g. Các biến cố trong thai kỳ như vậy thường dẫn đến tử vong hoặc bệnh tật đáng kể ở trẻ sơ sinh, để lại hậu quả suốt đời cho các em (Rối loạn phát triển thần kinh, rối loạn hô hấp, dị tật bẩm sinh và chậm phát triển).

    Các yếu tố nguy cơ đã được nghiên cứu đối với các biến cố trong thai kì bao gồm: tuổi của mẹ (dưới 17 tuổi hoặc trên 34 tuổi), dân tộc (tỷ lệ mắc bệnh tăng ở người gốc Tây Ban Nha, người Mỹ gốc Phi và những người có địa vị kinh tế xã hội thấp), sử dụng ma túy, rượu và thuốc lá, căng thẳng, chăm sóc trước khi sinh không đầy đủ, tiểu đường và nhiễm trùng đường tiết niệu sinh dục (do vi khuẩn Gram  âm gây ra (tương tự như viêm nha chu) ảnh hưởng đến màng ối của mẹ, dẫn đến tăng sản xuất các cytokine gây viêm, từ đó có thể dẫn đến vỡ ối sớm và do đó gây ra tình trạng trẻ sinh non nhẹ cân).

    Trong tam cá nguyệt thứ hai của thai ký, số lượng các vi khuẩn Gram âm ở dưới nướu thai phụ chiếm ưu thế do đó dễ mắc bệnh nha chu hơn và có phản ứng viêm cao hơn. Việc tăng lượng vi khuẩn, nhiễm độc tố nội sinh và tăng cytokine (IL-1β, TNF-α, IL-6, CRP), chảy qua tuần hoàn của người mẹ và gây cảm ứng mạnh cho sự chuyển dạ dẫn đến vỡ màng ối sớm và sinh non.

    Viêm nha chu và các bệnh về đường hô hấp:

    Viêm phổi và bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD) là hai tình trạng hô hấp có liên quan đến viêm nha chu. Viêm phổi là tình trạng nhiễm trùng đường hô hấp dưới (phế nang) thường do vi khuẩn hoặc vi-rút gây ra và ít gặp hơn là do các vi sinh vật khác, một số loại thuốc và các tình trạng khác như bệnh tự miễn. Các triệu chứng điển hình bao gồm ho, đau ngực, sốt và khó thở.

    COPD là tình trạng đặc trưng bởi tình trạng tắc nghẽn mãn tính đường hô hấp do sản xuất quá nhiều đờm từ viêm phế quản mãn tính và/hoặc khí phế thũng. Các triệu chứng lâm sàng bao gồm ho, khó thở, khó thở và mệt mỏi, tất cả đều trở nên rõ rệt hơn trong thời gian bùng phát.

    Cả hai tình trạng hô hấp này đều có tỉ lệ tử vong đáng kể, đặc biệt là ở người cao tuổi và người ốm yếu.

    Ngày càng có nhiều báo cáo cho thấy viêm phổi phổ biến hơn ở những bệnh nhân vệ sinh răng miệng kém, sâu răng và bệnh nha chu và đặc biệt là ở những người dễ hít phải dịch từ khoang miệng (bệnh nhân được đặt nội khí quản và bệnh nhân cao tuổi/yếu ớt gặp khó khăn khi nuốt). Vi khuẩn đường miệng (Aggregatibacter actinomycetemcomitans, Eikenella corrodens, Fusobacterium nucleatum, Porphyromonas và các loài Prevotella) được phân lập từ các mẫu dịch phổi có thể ảnh hưởng đến đường hô hấp qua nhiều cơ chế khác nhau.

    Viêm nha chu và chứng mất trí:

    Đã có ít nhất ba bài nghiên cứu có hệ thống được công bố trong khoảng thời gian từ năm 2017 đến năm 2020 về mối quan hệ giữa bệnh nha chu và bệnh Alzheimer. Trong đó, có một nghiên cứu kết luận rằng có "mối liên hệ đáng kể giữa bệnh nha chu và bệnh Alzheimer và cần tiến hành thêm các nghiên cứu để tìm hiểu hướng liên hệ và các yếu tố có thể làm nhiễu mối liên hệ này". Ở một nghiên cứu khác, kết luận rằng bệnh nha chu và bệnh Alzheimer thường cùng tồn tại. Bài báo còn kết luận rằng vi khuẩn liên quan đến bệnh nha chu và các sản phẩm gây viêm phát sinh từ bệnh nha chu có thể làm tăng tình trạng viêm ở hệ thần kinh trung ương nhưng cho đến nay vẫn chưa có bằng chứng chắc chắn nào coi bệnh nha chu là yếu tố nguy cơ gây bệnh Alzheimer. Tuy nhiên, họ cho rằng cần cải thiện vệ sinh răng miệng cho người lớn tuổi mắc chứng mất trí và cần đạt được điều này bằng cách đào tạo trợ lý chăm sóc thực hiện vệ sinh răng miệng hàng ngày cho bệnh nhân tại viện dưỡng lão của họ và theo dõi thường xuyên sức khỏe răng miệng của những bệnh nhân này bởi các chuyên gia nha khoa. Nghiên cứu về bệnh nha chu và chứng mất trí vẫn đang tiếp tục.

    Viêm nha chu và các bệnh toàn thân khác:

    • COVID-19
    • Béo phì
    • Loãng xương
    • Viêm khớp dạng thấp
    • Ung thư biểu mô tế bào vảy vùng đầu và cổ
    • Bệnh viêm ruột
    • Rối loạn cương dương

     

    Khoang miệng là một phần không thể thiếu của cơ thể con người và do đó, việc quản lý các bệnh nha chu nên được coi là góp phần vào sức khỏe và hạnh phúc của con người. Mối liên hệ tiềm ẩn giữa viêm nha chu và bệnh toàn thân đã được nghiên cứu sâu rộng và đã được đưa lên hàng đầu trong một bài viết chung do Liên đoàn nha chu châu ÂuViện Hàn lâm nha chu Hoa Kỳ phát hành. Những tiến bộ trong tương lai về nha chu nói chung và y học nha chu nói riêng sẽ giúp hiểu rõ hơn về các tương tác tiềm ẩn giữa viêm nha chu và các bệnh toàn thân. Từ đó, với tư cách là các bác sĩ lâm sàng, chúng tôi sẽ chăm sóc bệnh nhân tốt hơn. Nếu bạn đang gặp các tình trạng bệnh lý liên quan đến nha chu hãy đến các nha khoa gần nhất hoặc liên hệ ngay với Nha khoa Thẩm mỹ Á - Âu | Dr. Dân để tránh những biến chứng toàn thân sau này!

     

    Source: Pratical Periodontics (Kenneth Eaton and Philip Ower) 2nd Edition - 2023

     

    Zalo
    Hotline